Ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực quản lý bất động sản trên thị trường bất động sản

1. Vê cơ cấu tổ chức
a) Trung ương
– Cục công nghệ thông tin thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường có chức năng quản lý Nhà nước về ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành, đề xuất các chính sách, các quy định kỹ thuật, giám sát kiểm tra thực hiện công tác này.
– Trung tâm Lưu trữ và Thông tin đất đai (thuộc Tổng cục quản lý đất đai) là đơn vị sự nghiệp, có chức năng, nhiệm vụ xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu về đất đai cấp Trung ương.
b) Ớ các địa phương
Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã thành lập các đơn vị sự nghiệp như: Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất; Trung tâm Thông tin lưu trữ; Trung tâm Công nghệ thông tin. Các đơn vị này thực hiện việc ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai cấp địa phương.
2. Về nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực về công nghệ thông tin bước đầu đáp ứng yêu cầu phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực quản lý đất đai, BĐS các cấp, đặc biệp cấp địa phương cơ sở.
Với nguồn nhân lực như vậy, việc chuyển giao công nghệ đã được triển khai trên diện rộng, chưa đưa cơ sở dữ liệu đất đai thực sự đi vào quá trình quản lý và hỗ trợ ra quyết định về chính sách.

Ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực quản lý bất động sản trên thị trường bất động sản 1

3. Về công nghệ
Xây dựng cơ sở dữ liệu về đất đai gắn liền với công nghệ hệ thống thông tin địa lý (GIS) và các ứng dụng CAD để số hóa dữ liệu địa chính. Thông qua các nghiên cứu của nhiều đơn vị, các dự án đã và đang thực hiện từ năm 1992 trở lại đây, nhiều công nghệ đã được ứng dụng trong các cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai từ cấp Trung ương tới cấp địa phương, các doanh nghiệp đo đạc bản đồ và lập hồ sơ địa chính. Các công nghệ được ứng dụng cơ bản là các công nghệ tiên tiến ở Việt Nam và trên thế giới.
– Công nghệ LIS – Hệ thống thông tin đất đai:
Hiện tại đã có nhiều hệ thống thông tin đất đai do nhiều đơn vị trong và ngoài ngành xây dựng như: ELIS (Cục Công nghệ thông tin), VILIS (Trung tâm Viễn thám Quốc gia), EKLIS (Công ty EK).
– Công nghệ GIS – Hệ thống thông tin địa lý:
Các công nghệ GIS nền được sử dụng cũng rất đa dạng như ArGIS của hãng ESRI (Mỹ), Maplnfo, AutoCAD và một số hãng khác.
– Hệ quản trị cơ sở dữ liệu:
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu sử dụng Oracle, SQL Server, Access v.v… Có một số nghiên cứu ứng dụng toàn bộ mã nguồn mở trong vấn đề xây dựng LIS để tiết kiệm chi phí đầu tư cho công nghệ nền.
4. Về đầu tư
a) Chương trình Hợp tác Việt Nam – Thụy Điển về đổi mới hệ thống địa chính – CPLAR. Chương trình này có nguồn vốn không hoàn lại do cơ quan phát triển quốc tế SIDA Thụy Điển tài trợ cho Tổng cục Địa chính thực hiện từ năm 1997 đến năm 2003. Kết quả của dự án thử nghiệm đã được mở rộng ra nhiều tỉnh với sự nâng cao nhận thức và sử dụng các nguồn lực khác nhau để xây dựng hệ thống thông tin đất đai của địa phương mình ở nhiều mức độ khác nhau.
b) Dự án hoàn thiện và hiện đại hóa hệ thống quản lý đất đai Việt Nam (VLAP) với nguồn vốn vay ODA của Ngân hùng Thế giới đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường triển khai năm 2010. Dự án được khởi động trước tại 9 tỉnh, thành phố, gồm ba tỉnh Đồng bằng sông Hồng (Hà Nội, Hưng Yên, Thái Bình); ba tỉnh Duyên hải miền Trung (Bình Định, Khánh Hòa, Quảng Ngãi) và ba tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long). Mục tiêu của dự án là tăng cường sự tiếp cận của mọi đối tượng với dịch vụ thông tin đất đai, bằng cách phát triển một hệ thống quản lý đất đai hoàn thiện tại các địa phương thông qua việc xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính và bản đồ địa chính dạng số hóa. Dự án gồm 100 hoạt động khác nhau với ba giai đoạn triển khai trong vòng 5 năm: Giai đoạn thứ nhất, với mục tiêu hiện đại hóa hệ thống đăng ký đất đai; Giai đoạn thứ 2 sẽ tăng cường dịch vụ đăng ký đất đai; Giai đoạn thứ 3, hỗ trợ quản lý và theo dõi đánh giá chất lượng các kết quả của dự án.