Hệ thống quản lý thị trường bất động sản

1- Hệ thống quản lý thi trường bất động sản Việt Nam
– Chính phủ chỉ đạo (Nghị định, Nghị quyết, Quyết định);
– Các Bộ ngành hướng dẫn thực hiện về chuyên môn nghiệp vụ theo chức năng, nhiệm vụ Chính phủ giao (Thông tư, Quyết định);
– UBND các cấp: Tổ chức thực hiện theo chỉ đạo của Chính phủ, hướng dẫn của các Bộ ngành (Chỉ thị, Quyết định);
– Các cơ quan chuyên môn giúp việc trực thuộc B, ngành và UBND các cấp thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ được giao.
2- Hệ thống quản lý thi trường bất động sản Việt Nam
Hệ thống quản lý đất đai/BĐS Việt Nam quy định:
a) Vê ván bân pháp luật
Hệ thống pháp luật điều tiết TTBĐS gồm: Luật Đất đai (1987, 1993, 1998, 2001, 2003); Luật Xây dựng (2003); Luật Nhà ở (2005); Bộ luật Dân sự (2005); Luật Kinh doanh BĐS (2006).
c) Vê quy hoạch sử dụng đất
Thực hiện quy hoạch sử dụng đất và do cơ quan quản lý đất đai quản lý, thực hiện.
a) Về đăng ký đất đai
Đăng ký đất đai và BĐS lấy thửa đất là đơn vị.
Trước tháng 9/2009 đăng ký nhà, đất, công sản riêng và cấp giấy chứng nhận riêng do nhiều cơ quan quản lý thực hiện. Theo quy định của Luật sửa đổi một số điều liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản số 38/2009/QH12 ngày 19/6/2009, có hiệu lực từ tháng 9/2009 thống nhất cấp một loại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở và tài sản trên đất.
b) Vê định giá đất
Thực hiện định giá đất theo khung giá đất của Chính phủ quy định và bảng giá đất do chính quyền địa phương quy định theo khung giá đất của Chính phủ, cơ quan quản lý giá đất và định giá đất thuộc Ngành Tài nguyên và Môi trường.

Hệ thống quản lý thị trường bất động sản 1

c) Hệ thống thông tin đất đai
Việt Nam đã xây dựng hệ thống thông tin đất đai (Land Information System – LIS), tuy nhiên hiện tại thông tin đất đai và BĐS còn quản lý phân tán theo ngành chủ quản.
Cơ quan quản lý của nước ta thuộc ba Bộ quản lý:
– Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý đất đai;
– Bộ Xây dụng quản lý nhà ở và TTBĐS;
– Bộ Tài chính quản lý công sản.
3- Hệ thống quản lý đất đai / BĐS
a) Hệ thống quản lý đất đai (Land Adnùnistation System – LAS)
* Khái niệm
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên, tài sản Quốc gia quý giá; BĐS là một tài sản cố định, không thể di dời, BĐS gồm đất và các tài sản gắn liền với đất; BĐS có thể gồm một hoặc một số thửa đất. Một hệ thống cho việc xác lập hồ sơ về quyền sở hữu đất, giá trị đất, sử dụng đất và các tài liệu khác liên quan đến đất là một công cụ không thể thiếu được của nền kinh tế thị trường lành mạnh và thông thoáng cũng như để quản lý bền vững tài nguyên đất.
Hê thống quản lý đất đai bao gồm những đối tượng, đơn vị cơ bản khác nhau, nhưng thửa đất vẫn là đối tượng cơ bản nhất, phổ biến nhất. Các nưức phát triển việc đăng ký nhà, đất theo một hệ thống thống nhất, giấy chứng nhận (Land title) là một số duy nhất theo thửa đất chung cho cả nhà và đất, không loại trừ việc cho phép đãng ký nhà, một phần của toà nhà cùng những cấu trúc trên mặt đất hoặc dưới mặt đất gắn liền với thửa đất. Vì vậy trong tài liệu khi đề cập đến khái niệm hệ thống quản lý đất đai đã bao hàm cả quản lý đất đai và BĐS.
* Lợi ích của một hệ thống quản lý đất đai tốt [36, tr. 12].
– Đảm bảo quyền sở hữu và an toàn quyền sử dụng;
– Hỗ trợ cho thuế đất và BĐS;
– Đảm bảo an toàn tín dụng;
– Phát triển và giám sát TTBĐS;
– Bảo vệ đất Nhà nước;
– Giảm thiểu tranh chấp đất đai;
– Thuận lợi cho quá trình đổi mới hệ thống quản lý đất đai;
– Tăng cường quy hoạch đô thị và phát triển kết cấu hạ tầng;
– Hỗ trợ quản lý môi trường;
– Phát hành các tài liệu thống kê, đất đai phục vụ các mục tiêu, kinh tế – xã hội.
b) Cấu trúc hệ thống quản lý đất đai ịLand Administration System – LAS)
* Đăng ký đất đai (Land Regislation)
Đủng kỷ đất đui là một thành phần cơ bản quan trọng nhất của LAS, đó là quá trình xác lập hồ sơ về quyền sở hữu đất đai, BĐS sự đảm bảo và những thông tin về quyền sở hữu đất. Chức năng của đăng ký đất đai là cung cấp những căn cứ chuẩn xác và an toàn cho việc thu hồi, chấp thuận và từ chối các quyền về đất;
LAS có thể cung cấp những quy tắc và sự ổn định xã hội bởi việc xác lập sự an toàn không những cho các chủ sở hữu đất và các thành viên của họ mà còn cho các nhà đầu tư, các nhà cho vay tiền, các nhà thương nhân, người môi giới trong nước và quốc tế mà còn cho Chính phủ. Hệ thống đăng ký đất không chỉ liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ lợi ích của các chủ sở hữu tư nhân mà còn là một công cụ quan trọng của chính sách đất đai quốc gia và cơ chế hỗ trợ cho phát triển kinh tế.
* Địa chính (Cadastre)
Địa chính là một dạng của hệ thống thông tin đất đai.
Mục tiêu của nó đặc biệt hướng về sở hữu, giá trị và sử dụng của thửa đất cũng như đăng ký đất, địa chính bao gồm những hồ sơ về đất dựa trên cơ sở các thửa đất mà quyền sở hữu được xác lập, đó là diện tích đất xác định bởi quyền sở hữu hoặc là diện tích đất chịu thuế, nó không chỉ liên quan đến chủ sở hữu mà còn đối với người sử dụng đất. Địa chính không chỉ hỗ trợ cho quyển về BĐS mà còn thuế đất và hồ sơ về sử dụng đất.
* Hệ thống thông tin đất đai.
c) Tổ chức vù quản lý
Nhà nước đóng vai trò chính trong việc xác lập chính sách đất đai và những nguyên tấc của hệ thống quản lý đất đai bao gồm pháp Luật Đất đai và các quy phạm pháp luật khác liên quan đến đất đai với những nội dung chủ yếu được xác lập như sau:
– Phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước;
– Xác định vị trí của cơ quan đăng ký;
– Vai trò của các lĩnh vực công và tư;
– Quản lý cơ sở dữ liệu và các tổ chức địa chính;
– Quản lý nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo;
– Nghiên cứu khoa học;
– Hỗ trợ về chuyên gia và kỹ thuật;
– Hợp tác quốc tế.