Hệ thống đăng ký đất đai và bất động sản của Nhà nước Việt Nam (1945-2010)

1- Giai đoạn 1945-1954
a) Tổ chức bộ máy
Cơ quan Nhà nước đầu tiên có chức năng quản lý đất đai của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là Nha Trước bạ, Công sản và điển thổ. Nha Trước bạ, Công sản và điền thổ là một cơ quan thuộc Bộ Tài chính, được thành lập năm 1946 theo sắc lệnh số 75 ngày 29/5/946 của Chủ tịch nước về cơ cấu bộ máy cơ quan Bộ Tài chính; ngoài ra còn có Nha Địa chính.
Năm 1947, Nha Địa chính được sát nhập vào Bộ Canh nông theo Sắc lệnh số llb ngày 02/02/1947 của Chủ tịch nước; Sắc lệnh số 174 ngày 14/4/1948 sát nhập Sở Địa chính Trung bộ vào Nha Địa chính thuộc Bộ Canh nông.
Nha Địa chính được tái trực thuộc Bộ Tài chính theo Sắc lệnh số 64 ngày 18/6/1949 của Chủ tịch nước về việc sát nhập Nha Địa chính vào Bộ Tài chính.
Nha Công sản – Trực thu – Địa chính được thành lập do hợp nhất Nha Trước bạ – Công sản – Điền thổ với Nha Địa chính theo sắc lệnh số 112 ngày 11/7/1950 của Chủ tịch nước.
b) Hoạt động
Trong giai đoạn 1945-1954, quản lý đất đai Việt Nam triển khai tổ chức thi hành Luật Thuế trực thu Việt Nam (1949), Luật Cải cách ruộng đất (1953) và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật của Chính phủ.
2- Giai đoạn 1955-1975
a) Tổ chức bộ máy quản lý đất đai
Chỉ thị số 331-TTg ngày 3/7/1958 của Thủ tướng Chính phủ về việc tái lập lại hệ thống địa chính trong Bộ Tài chính và UBND các cấp. Hệ thống cơ quan địa chính được tái lập trong Bộ Tài chính và ƯBND các cấp để phục vụ hợp tác hoá nông nghiệp, tính thuế ruộng đất, xây dựng đô thị. Cơ quan địa chính ở Trung ương là Sở Địa chính thuộc Bộ Tài chính. Nhiệm vụ của Sở là tổ chức đo đạc, lập bản đồ giải thửa và sổ sách địa chính để nắm diện tích ruộng đất.
Theo quy định của Chính phủ tại Nghị định số 70-CP ngày 9/12/1960 Quy định nhiệm vụ tổ chức ngành Quản lý ruộng đất và Nghị định số 71-CP ngày 9/12/1960 ấn định công tác Quản lý ruộng đất, từ năm 1960 hệ thống địa chính trong Bộ Tài chính, được chuyển sang Bộ Nông nghiệp.
b) Hoạt động thống kê đất đai
Trong giai đoạn chiến tranh, đất nước bị chia cắt, hệ thống bản đồ, sổ bộ ruộng đất từ thời Pháp thuộc để lại không được cập nhật, chỉnh lý nên không sử dụng được nữa. Công tác địa chính trong giai đoạn này là tổ chức các cuộc điểu tra nhanh về đất để Nhà nưóc
có các thông tin về diện tích các loại đất phục vụ cho yêu cầu xây dựng kế hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng các hợp tác xã và tập đoàn sản xuất, khai hoang xây dựng vùng kinh tế mới.
Hồ sơ đất đai trong giai đoạn này chủ yếu gồm có: sổ mục kê đất và bản đồ hoặc sơ đồ giải thửa ruộng đất hoặc chỉnh lý các bản đồ cũ. Thông tin đất đai xác định trên sổ sách chủ yếu thông qua điều tra và xác định theo hiện trạng thực tế, không làm các thủ tục kê khai và xem xét cơ sở pháp lý, lịch sử sử dụng đất như các chế độ trước vẫn làm.
1958: Điều tra thống kê đất nông nghiệp gián tiếp (khai báo);
1964-1965: Điểu tra thống kê và quy hoạch phân phối đất đai trên toàn lãnh thổ miền Bắc (Bộ Nông nghiệp, Bộ Lâm nghiệp);
1967-1968: Điều tra thống kê đất nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp, Tổng cục Thống kê);
1969: Điểu tra xác định biến động đất đai đã thống kê 1967-1969 (Bộ Nông nghiệp, Tổng cục Thống kê);
1970-1976: Chỉnh lý bản đồ giải thửa và thống kê ruộng đất hàng năm.

Hệ thống đăng ký đất đai và bất động sản của Nhà nước Việt Nam (1945-2010) 1

3- Giai đoạn 1976-1985
a) Tổ chức
Theo Nghị quyết số 548/NQ-QH ngày 24/5/1979 của ủy ban Thường vụ Quốc Hội về việc thành lập Tổng cục Quản lý ruộng đất và thống nhất quản lý Nhà nước về đất đai, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 404-CP ngày 09/11/1979 quy định chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của Tổng cục Quản lý ruộng đất trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng và cơ quan quản lý ruộng đất ở địa phương trực thuộc UBND các cấp. Điều 1 Nghị định nêu rõ: TỔng cục Quản ỉỷ ruộng đất là cơ quan trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng, thống nhất quản lý Nhà nước đôi với toàn hộ ruộng đất trên lãnh thổ cả nước nhằm phát triển sản xuất, bảo vệ đất đai, bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm vù có hiệu quả cao đối với tất củ các loại đất.
b) Hoạt động
– Thực hiện Quyết định số 169-CP ngày 24/6/1977 của Hội đồng Chính phủ về công tác điều tra thống kê tình hình cơ bản vể đất đai trong cả nước. Lần đầu tiên bộ số liệu thống kê đất đai cả nước đã được công bố vào tháng 8/1980.
– Năm 1980, Quyết định 201-CP ngày 1/7/1980 của Hội đồng Chính phủ về thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước. Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 299-TTg ngày 10/11/1980 về công tác đo đạc, phân hạng và đãng ký thống kê ruộng đất. Tổng cục Quản lý ruộng đất ra Quyết định số 56/ĐKTK ngày 5/11/1981 ban hành quy định về thủ tục đãng ký thống kê ruộng đất trong cả nước, việc đăng ký đất đai mới được bắt đầu được thực hiện trở lại ở Việt Nam.
– Năm 1982 Tổng cục Quản lý ruộng đất đã xuất bản Bản đồ hiện trạng sử dụng đất đến năm 1980, tỷ lệ 1/1.000.000 có kèm theo các bảng thống kê và thuyết minh.
4- Giai đoạn 1986-2010
a) Tổ chức
– Tổng cục Địa chính là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về đất đai và đo đạc bản đồ. Chức năng, nhiệm vu, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Địa chính được quy định tại Nghị định số 34/CP ngày 23/04/1994 của Chính phủ.
– Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập theo Nghị quyết số 02/2002/QH11 ngày 5/8/2002 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, trên cơ sở hợp nhất Tổng cục Địa chính, Tổng cục Khí tượng – Thủy văn và các tổ chức thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tài nguyên nước (thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), tài nguyên khoáng sản (thuộc Bộ Công nghiệp) và môi trường (thuộc Bộ Khoa học – Công nghệ và Môi trường).
Ngành Quản lý đất đai là một trong sáu ngành trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường với hai đơn vị cấp vụ, chuyên về quản lý Nhà nước về đất đai là Vụ Đất đai và Vụ Đãng ký và Thống kê đất đai. Ngoài ra một số đơn vị khác cũng tham gia một phần vào công tác quản lý Nhà nước về đất đai là Thanh tra và Vụ Pháp chế.
– Tổng cục Quản lý đất đai được thành lập theo Quyết định số 134/2008/QĐ-TTg ngày 02/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ. Tổng cục Quản lý đất đai là cơ quan trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý Nhà nước về đất đai trong phạm vi cả nước; thực hiện các dịch vụ công theo quy định của pháp luật.
h) Cơ sở pháp luật vê đăng kỷ đất đai
– Năm 1987 – Luật Đất đai năm (1987, 1993, 2003) đã xác định: Việc đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyển sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính là một trong những nội dung quản lý Nhà nước về đất đai thuộc trách nhiệm của chính quyền các cấp.
– Năm 1994 – Chính phủ ban hành Nghị định số 60/1994/NĐ-CP ngày 5/7/1994 về Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đô thị. Theo quy định này, hệ thống đăng ký đất đai có một số điểm mới: Người sử dụng đất ở và sở hữu nhà ở được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở tại đô thị.
– Năm 1998 – Chính phủ ban hành Nghị định số 14/1998/NĐ-CP ngày 06/3/1998 về việc quản lý tài sản Nhà nước. Theo quy định này, tất cả các cơ quan Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội,
tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp đều phải đăng ký đất đai, nhà và công trình xây dựng khác gắn liền với đất đai. Việc đăng ký được thực hiện tại cơ quan quản lý công sản các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và được cấp giấy chứng nhận quyền quản lý, sử dụng nhà đất trụ sở làm việc thuộc sở hữu Nhà nước theo quy định của Bộ Tài chinh tại Quyết định số 20/1999/QĐ -BTC ngày 25/02/1999.
– Năm 2009: Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản số 38/2009/QH12 ngày 18/6/2009 đã đặt cơ sở pháp lý cho việc sử dụng một loại giấy chứng nhận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở vù tài sản khác gắn liền với đất được cấp cho người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất theo một loại thống nhất trong cả nước do Bộ Tài nguyên và Môi trường phát hành.
– Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Nghị định này quy định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi là giấy chứng nhận); điều kiện ủy quyền cấp giấy chứng nhận; hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận.
– Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Thông tư này quy định về mẫu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là giấy chứng nhận); thể hiện nội dung trên giấy chứng nhận và đăng ký biến động sau khi cấp giấy chứng nhận.
– Xây dựng hồ sơ địa chính: Hồ sơ địa chính có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ phục vụ cho việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất, mà còn đáp ứng cho yêu cầu quản lý đất đai chặt chẽ, khoa học; phục vụ hiệu quả cho công tác thống kê, kiểm kê đất đai, lập quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành và làm cơ sở tổng hợp những quy luật kinh tế – xã hội có liên quan đến đất đai, làm luận cứ khoa học để điều chỉnh luật pháp, chính sách và chiến lược, quy hoạch. Việc thiết lập hệ thống hồ sơ địa chính ở các cấp với đầy đủ những thông tin cần thiết về các mặt tự nhiên, kinh tế, xã hội, pháp lý là một tiến bộ quan trọng trong công tác quản lý đất đai.
Do đặc điểm lịch sử, những năm trước đây, hồ sơ đất đai ban đầu không đủ, phân tán, thiếu chính xác, không đáp ứng yêu cầu công tác quản lý đất đai. Nhà nước chỉ đạo ngành Quản lý đất đai tổ chức đăng ký đất đai, thành lập bộ hồ sơ địa chính ban đầu. Cơ quan quản lý đất đai các cấp đã tăng cường thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ trong việc đăng ký đất đai.
– Cấp giấy chứng nhận: Giấy chứng nhận đã cấp là chứng thư pháp lý quan trọng xác định mối quan hệ giữa Nhà nước với người sử dụng đất.
Cấp giấy chứng nhận, giúp Nhà nước nắm chắc đất đai đến từng thửa đất, từng chủ sử dụng. Tạo điều kiện để nhân dân, tổ chức thực hiện các quyển và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật và sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả đất đai; tạo tiền để cho việc thúc đẩy TTBĐS phát triển; góp phần giải quyết vướng mắc trong công tác đền bù, GPMB nhằm thúc đẩy các dự án đầu tư phát triển kinh tế – xã hội.